Home Blog Đầu Tư Cổ Phiếu Lưu Động (Floating Stock) Là Gì?

Cổ Phiếu Lưu Động (Floating Stock) Là Gì?

by GDTC Editor
  • Cổ phiếu lưu động đề cập đến số lượng cổ phiếu của một công ty được giao dịch trên thị trường mở.
  • Để tính số lượng cổ phiếu lưu động của một công ty, hãy lấy tổng số cổ phiếu đang lưu hành của công ty đó trừ đi số lượng cổ phiếu bị hạn chế giao dịch và số cổ phiếu sở hữu tư nhân.
  • Số lượng cổ phiếu lưu động sẽ thay đổi theo thời gian vì công ty có thể phát hành cổ phiếu mới, mua lại cổ phiếu hoặc các cổ đông nội bộ và cổ đông lớn của công ty mua hoặc bán cổ phiếu.
  • Các cổ phiếu lưu động thấp thường có chênh lệch cao hơn và biến động lớn hơn so với các cổ phiếu tương đương có số lượng lưu động lớn hơn.
  • Nhà đầu tư có thể gặp khó khăn khi tham gia hoặc thoát khỏi các vị thế trong các cổ phiếu lưu động thấp.

Cổ phiếu lưu động là gì?

Cổ phiếu lưu động là số lượng cổ phiếu có thể giao dịch của một công ty cụ thể. Cổ phiếu lưu động thấp là cổ phiếu có số lượng ít trên thị trường. Cổ phiếu lưu động được tính bằng tổng số cổ phiếu đang lưu hành trừ đi số lượng cổ phiếu hạn chế giao dịch và cổ phiếu sở hữu tư nhân.

Cổ phiếu sở hữu tư nhân là cổ phiếu thuộc sở hữu của người thuộc nội bộ, các cổ đông lớn hoặc nhân viên công ty. Cổ phiếu hạn chế giao dịch là cổ phiếu nội bộ không thể được giao dịch do bị hạn chế tạm thời, chẳng hạn như thời gian khóa giao dịch sau khi phát hành lần đầu ra công chúng (IPO).

Một cổ phiếu có số lượng lưu động nhỏ nhìn chung sẽ dễ biến động hơn so với một cổ phiếu tương đương có số lượng lưu động lớn. Điều này là do cổ phiếu với số lượng cổ phiếu có thể giao dịch nhỏ hơn sẽ khó tìm được người mua hoặc người bán hơn. Điều này thường dẫn đến chênh lệch lớn hơn và khối lượng giao dịch nhỏ hơn đối với cổ phiếu.

Hiểu về cổ phiếu lưu động

Một công ty có thể có một số lượng lớn cổ phiếu đang lưu hành nhưng có số lượng cổ phiếu lưu động nhỏ. Ví dụ, giả sử một công ty có 50 triệu cổ phiếu đang lưu hành. Trong số 50 triệu cổ phiếu đó, các tổ chức lớn sở hữu 35 triệu cổ phiếu, ban lãnh đạo công ty và các cổ đông nội bộ sở hữu 5 triệu cổ phiếu, và chương trình phát hành cổ phiếu cho người lao động (ESOP) có 2 triệu cổ phiếu. Trong trường hợp này, số lượng cổ phiếu lưu động của công ty này chỉ là 8 triệu cổ phiếu (50 triệu cổ phiếu trừ đi 42 triệu cổ phiếu), tương đương 16% số lượng cổ phiếu đang lưu hành.

Số lượng cổ phiếu lưu động của công ty có thể tăng hoặc giảm theo thời gian. Điều này có thể xảy ra vì nhiều lý do. Đơn cử là một công ty có thể bán thêm cổ phiếu để huy động thêm vốn, việc này sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu lưu động. Nếu các cổ phiếu bị hạn chế giao dịch hoặc sở hữu tư nhân được đưa ra giao dịch trên thị trường mở thì số lượng cổ phiếu lưu động cũng sẽ tăng lên.

Ngược lại, nếu một công ty quyết định mua lại cổ phiếu thì số lượng cổ phiếu đang lưu hành sẽ giảm xuống. Trong trường hợp này, tỷ lệ cổ phiếu lưu động trên tổng số cổ phiếu đang lưu hành cũng sẽ giảm xuống.

Quan trọng: Việc phân tách cổ phiếu sẽ làm tăng số lượng cổ phiếu lưu động, trong khi việc gộp cổ phiếu sẽ làm giảm số lượng cổ phiếu lưu động.

Tại sao cổ phiếu lưu động lại quan trọng

Số lượng cổ phiếu lưu động của một công ty là một con số quan trọng đối với các nhà đầu tư vì nó cho biết có bao nhiêu cổ phiếu thực sự có thể được mua và bán bởi công chúng đầu tư nói chung. Số lượng cổ phiếu lưu động thấp thường là một trở ngại cho giao dịch tích cực. Việc thiếu hoạt động giao dịch này có thể gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc vào hoặc thoát khỏi vị thế đối với các cổ phiếu có số lượng lưu động hạn chế.

Các nhà đầu tư tổ chức (chẳng hạn như quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí và công ty bảo hiểm) thường sẽ tránh giao dịch ở các công ty có số lượng cổ phiếu lưu động nhỏ vì có ít cổ phiếu được giao dịch hơn, do đó dẫn đến thanh khoản hạn chế và chênh lệch bid-ask rộng hơn. Thay vào đó, các nhà đầu tư tổ chức mua các khối cổ phiếu lớn sẽ tìm cách đầu tư vào các công ty có tỷ lệ lưu động lớn hơn. Nếu họ đầu tư vào các công ty có số lượng cổ phiếu lưu động lớn, các giao dịch mua lớn của họ sẽ không ảnh hưởng nhiều đến giá cổ phiếu.

Cân nhắc đặc biệt

Một công ty không chịu trách nhiệm về cách thức giao dịch đối với cổ phiếu lưu động của họ trong thị trường đại chúng — đây là một chức năng của thị trường thứ cấp. Do đó, việc cổ phiếu được nhà đầu tư mua, bán hoặc thậm chí bán khống không ảnh hưởng đến số lượng cổ phiếu lưu động vì những hành động này không làm thay đổi số lượng cổ phiếu có thể giao dịch. Các hành động này chỉ đơn giản là phân phối lại cổ phần giữa các nhà đầu tư khác nhau. Tương tự như vậy, việc tạo và giao dịch các quyền chọn trên một cổ phiếu cũng không ảnh hưởng đến số lượng lưu động của cổ phiếu đó.

Ví dụ về cổ phiếu lưu động

Tính đến tháng 6 năm 2020, General Electric (GE) có 8,75 tỷ cổ phiếu đang lưu hành. Trong đó, 0,13% là do các cổ đông nội bộ nắm giữ, 63,61% là do các nhà đầu tư tổ chức lớn nắm giữ. Như vậy, có tổng cộng 63,7%, tương đương 5,57 tỷ cổ phiếu, có nhiều khả năng không được giao dịch công khai. Vì lẽ đó, số lượng cổ phiếu lưu động là 3,18 tỷ cổ phiếu (8,75 tỷ trừ đi 5,57 tỷ).

Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là các tổ chức không giữ cổ phiếu mãi mãi. Số lượng sở hữu bởi các nhà đầu tư tổ chức sẽ thay đổi thường xuyên, mặc dù không phải lúc nào cũng với số lượng lớn đáng kể. Số lượng cổ phiếu sở hữu bởi các nhà đầu tư tổ chức giảm xuống thấp hơn đi cùng với giá cổ phiếu giảm có thể báo hiệu rằng các tổ chức đang bán tháo. Số lượng sở hữu của các nhà đầu tư tổ chức tăng lên cho thấy các nhà đầu tư tổ chức đang tích lũy cổ phiếu.

0 0 votes
Article Rating

related posts

Theo dõi
Nhận thông báo
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments