Home Kiến thức đầu tư Năng suất biên là gì? Quy luật năng suất biên giảm dần 

Năng suất biên là gì? Quy luật năng suất biên giảm dần 

Quy luật năng suất cận biên hay năng suất biên (MPL) là một nguyên tắc kinh tế thường được các nhà quản lý xem xét trong quản lý năng suất. Hãy cùng giaodichtaichinh giải đáp các thắc mắc về năng suất biên là gì? và quy luật năng suất biên giảm là gì nhé!

1. Năng suất biên là gì?

Năng suất biên hay còn gọi là sản phẩm cận biên của lao động (MPL) là sự thay đổi trong tổng sản lượng do số lượng lao động  tăng thêm một đơn vị trong khi giữ tất cả các yếu tố đầu vào khác không đổi. 

Năng suất biên đại diện cho đầu ra bổ sung có thể được sản xuất bằng cách thuê thêm một đơn vị lao động trong khi giữ tất cả các yếu tố đầu vào khác, chẳng hạn như vốn và nguyên liệu thô, không đổi. 

Sản phẩm cận biên của lao động là một khái niệm quan trọng trong kinh tế lao động và lý thuyết sản xuất, vì nó giúp xác định mức lao động tối ưu cần sử dụng để tối đa hóa sản lượng. 

Công thức năng suất biên được biểu hiện như sau:

năng suất biên

 

Năng suất biên MPL là gì? MPK là gì?

Trên đồ thị hàm số, MPL còn được xem là độ dốc của đường tổng sản lượng.

Nếu hàm sản xuất đó là hàm số liên tục thì năng suất biên MPL có thể được tính bằng cách lấy đạo hàm của tổng hàm sản xuất đối với lao động, hoặc bằng cách quan sát sự thay đổi trong sản lượng do số lượng công nhân tăng thêm một đơn vị. Sản phẩm cận biên của lao động có thể dương, âm hoặc bằng không. Giá trị dương khi mỗi đơn vị lao động bổ sung làm tăng sản lượng, âm khi mỗi đơn vị lao động bổ sung làm giảm sản lượng và bằng 0 khi công nhân bổ sung không ảnh hưởng đến sản lượng.

Ví dụ về năng suất biên:

Nếu hàm sản xuất liên tục có dạng: Q = K(L + 2 )

Thì năng suất biên của lao động: MPL= dQ/dL = K

=> Năng suất biên của vốn: MPK = dQ/dK= L+2

Xem thêm: Khái niệm cung cầu

2.  Quy luật năng suất biên giảm dần là gì?

Quy luật năng suất cận biên giảm dần (còn được gọi là quy luật lợi nhuận giảm dần) phát biểu rằng khi càng có nhiều đơn vị đầu vào khả biến (chẳng hạn như số lượng lao động) được thêm vào một lượng cố định các yếu tố đầu vào khác (chẳng hạn như vốn và đất đai), sản phẩm cận biên của đầu vào khả biến cuối cùng sẽ giảm. Điều này có nghĩa là đầu ra bổ sung được tạo ra bởi mỗi đơn vị đầu vào biến đổi bổ sung sẽ giảm khi sử dụng nhiều đơn vị đầu vào biến đổi hơn.

Quy luật năng suất cận biên giảm dần phát sinh do năng suất của bất kỳ đầu vào nào cũng có giới hạn và khi sử dụng nhiều đơn vị đầu vào hơn, các nguồn lực sẵn có ngày càng trở nên khan hiếm. Kết quả là, sản phẩm cận biên của một đầu vào cuối cùng sẽ giảm khi đầu vào ngày càng khan hiếm.

Luật này có một số ý nghĩa đối với sản xuất và ra quyết định kinh tế. Ví dụ, nó gợi ý rằng các công ty nên chọn lọc cách họ sử dụng đầu vào của mình, để tối đa hóa đầu ra mà họ có thể sản xuất với một tập hợp đầu vào nhất định. Nó cũng gợi ý rằng có một mức đầu vào tối ưu mà các công ty nên nhắm tới để đạt được sản lượng tối đa.

Điều quan trọng cần lưu ý là quy luật năng suất cận biên giảm dần là một xu hướng chung và có thể không đúng trong mọi trường hợp, vì có thể có các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến năng suất của các yếu tố đầu vào như tiến bộ công nghệ, thay đổi cơ cấu lực lượng lao động , và như thế.

Để các bạn có thể hiểu hơn về năng suất biên giảm dần, Giaodichtaichinh đã có ví dụ sau đây, mời các bạn đón xem bảng 4.1: chúng ta có một bảng ngắn gọn về hàm sản xuất:

năng suất biên

Từ bảng 4.1, chúng ta có thể mô tả năng suất biên của yếu tố lao động, năng suất trung bình và  tổng sản lượng  bằng đồ thị 4.1 như sau:

năng suất biên

Xem thêm: Độ co giãn của cung và cầu

3.  Đặc điểm của Quy luật năng suất biên giảm dần

Quy luật năng suất biên giảm dần có các đặc điểm chính sau:

  • Sản phẩm cận biên giảm: Khi nhiều đơn vị đầu vào biến đổi được thêm vào quy trình sản xuất, sản phẩm cận biên của đầu vào đó cuối cùng sẽ giảm. Điều này có nghĩa là đầu ra bổ sung được tạo ra bởi mỗi đơn vị đầu vào biến đổi bổ sung sẽ giảm theo thời gian.
  • Sản lượng tăng không theo một tỷ lệ nhất định: Sản lượng tăng do đầu vào khả biến tăng không tỷ lệ với mức tăng của đầu vào. Điều này có nghĩa là đầu ra bổ sung từ đơn vị đầu vào biến đổi đầu tiên lớn hơn đầu ra bổ sung từ đơn vị thứ hai, v.v.
  • Xác định điểm đạt đến lợi nhuận giảm dần: Quy luật năng suất cận biên giảm dần gợi ý rằng có một điểm vượt qua đó việc thêm nhiều đơn vị đầu vào biến đổi sẽ không dẫn đến bất kỳ sự gia tăng đáng kể nào về sản lượng.
  • Các dấu hiệu  của mức đầu vào tối ưu: Quy luật năng suất cận biên giảm dần gợi ý rằng có một mức đầu vào tối ưu mà các doanh nghiệp nên nhắm tới để tối đa hóa sản lượng.
  • Đâu là yếu tố đầu vào bị giới hạn cố định: Quy luật năng suất cận biên giảm dần được kích hoạt bởi các yếu tố đầu vào cố định như vốn, đất đai và công nghệ. Khi nhiều đơn vị đầu vào biến đổi được thêm vào, đầu vào cố định trở nên khan hiếm và hạn chế năng suất của đầu vào biến đổi.
  • Không phải lúc nào cũng áp dụng được: Quy luật năng suất cận biên giảm dần là xu hướng chung, nhưng có thể không đúng trong mọi trường hợp. Nó có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như tiến bộ công nghệ, thay đổi thành phần lực lượng lao động.

Quy tắc chung là một doanh nghiệp đạt tối đa hóa lợi nhuận bằng cách sản xuất lượng đầu ra mà tại đó doanh thu cận biên bằng chi phí cận biên. Vấn đề tối đa hóa lợi nhuận cũng có thể được tiếp cận từ phía đầu vào. Nghĩa là, cách sử dụng đầu vào khả biến để tối đa hóa lợi nhuận là bao nhiêu? Để tối đa hóa lợi nhuận, công ty nên tăng mức sử dụng “đến điểm mà sản phẩm doanh thu cận biên của đầu vào bằng với chi phí cận biên của nó”. Vì vậy, về mặt toán học, quy tắc tối đa hóa lợi nhuận là MRPL = MCL. Lợi nhuận cận biên trên mỗi đơn vị lao động bằng sản phẩm doanh thu cận biên của lao động trừ đi chi phí lao động cận biên hoặc MπL = MRPL − Công ty MCLA tối đa hóa lợi nhuận khi MπL = 0.

Sản phẩm doanh thu cận biên là sự thay đổi trong tổng doanh thu trên mỗi đơn vị thay đổi của đầu vào khả biến giả định lao động.[10] Nghĩa là, MRPL = ∆TR/∆L. MRPL là tích của doanh thu cận biên và sản phẩm cận biên của lao động hay MRPL = MR × MPL.

Nguồn gốc:

  • MR = ∆TR/∆Q
  • MPL = ∆Q/∆L
  • MRPL = MR × MPL = (∆TR/∆Q) × (∆Q/∆L) = ∆TR/∆L

4.  Mối quan hệ giữa năng suất biên và năng suất trung bình và tổng sản lượng:

4.1. Mối quan hệ năng suất biên và năng suất trung bình

Cả hai chỉ số năng suất biên và năng suất trung bình đều quan trọng để đánh giá hiệu suất của một thiết bị hoặc hệ thống vận hành.ng suất biên cho thấy hiệu suất tại mức hoạt động tối đa, trong khi đó năng suất trung bình cho thấy hiệu suất trung bình trong một khoảng thời gian dài.  

Năng suất trung bình (Average Efficiency)  và năng suất biên (MPL) của yếu tố sản xuất biến đổi (như yếu tố lao động) có mối quan hệ mật thiết với nhau:

  • Khi năng suất biên lớn hơn năng suất trung bình, thì năng suất trung bình tăng (MP > AP => AP tăng) 
  • Khi năng suất biên nhỏ hơn năng suất trung bình, thì năng suất trung bình giảm (MP < AP => AP giảm)
  • Khi năng suất biên bằng năng suất trung bình, thì năng suất trung bình đạt cực đại (MP = AP => AP max)

Giaodichtaichinh sẽ giúp các bạn chứng minh nó qua bài toán đại số để hiểu hơn về mối quan hệ trên:

năng suất biên

4.2 Mối quan hệ năng suất biên với tổng sản lượng

Điều quan trọng cần lưu ý là mối quan hệ giữa năng suất cận biên và tổng sản lượng không phải lúc nào cũng tuyến tính. Có một điểm là năng suất cận biên giảm dần, nghĩa là khi càng có nhiều đơn vị đầu vào được thêm vào quy trình sản xuất, năng suất cận biên của đầu vào đó cuối cùng sẽ giảm. Điều này có nghĩa là đầu ra bổ sung được tạo ra bởi mỗi đơn vị đầu vào bổ sung sẽ giảm theo thời gian. Ngoài điểm đó, công ty sẽ đạt đến điểm lợi nhuận giảm dần, tại đó việc thêm nhiều đầu vào hơn sẽ không dẫn đến bất kỳ sự gia tăng đáng kể nào về sản lượng.

Nhìn chung, giữa tổng sản lượng và năng suất biên cũng có mối quan hệ mật thiết như sau:

  • Khi năng suất biên còn dương thì tổng sản lượng còn tăng (khi MP > 0 => Q giảm)
  • Khi năng suất biên âm thì tổng sản lượng sẽ giảm (khi MP < 0 => Q tăng)
  • Khi năng suất biên bằng không thì tổng sản lượng đạt tối đa (khi MP = 0  => Q max)

Để tối đa hóa sản lượng của mình, doanh nghiệp cần phải cân đối cẩn thận việc sử dụng các yếu tố đầu vào để đảm bảo rằng nó đang hoạt động ở điểm có năng suất cận biên tối đa chứ không phải ở điểm mà năng suất cận biên đang giảm dần.

5. Ví dụ thực tế về năng suất biên

Để các bạn thực sự hiểu hơn về năng suất biên là gì? Giaodichtaichinh có một số ví dụ thực tiễn sau đây để giúp các bạn phần nào nắm được các lý thuyết mà Giaodichtaichinh đã nêu ở trên nhé!

Ví dụ 1: 

Nếu một đứa trẻ ăn một viên kẹo, nó sẽ có vị ngọt. Khi anh ấy ăn chiếc kẹo thứ 2, sự hài lòng sẽ giảm đi so với chiếc thứ nhất. Đến viên kẹo thứ 3, sự hài lòng của đứa trẻ sẽ giảm nhiều hơn.

Ví dụ 2:

Khi một người nín thở xuống nước, anh ta cảm thấy dễ chịu khi ra ngoài lấy không khí và trút hơi thở đầu tiên. Hơi thở thứ 2 sẽ mang lại sự hài lòng nhưng không giống như lần đầu tiên. Tương tự như vậy, sự hài lòng của anh ấy sẽ giảm hơn nữa khi anh ấy hít thở nhiều hơn sau đó.

Ví dụ 3: 

Một ví dụ về sản phẩm là một nhà máy sản xuất giày. Ban đầu, nhà máy có một dây chuyền sản xuất với một công nhân và có khả năng sản xuất 100 đôi giày mỗi ngày. Khi nhà máy thuê thêm công nhân, tổng sản lượng tăng lên. Ví dụ: khi thêm công nhân thứ hai, tổng sản lượng tăng lên 200 đôi giày mỗi ngày. Sản phẩm lao động cận biên của công nhân thứ hai là 100 đôi giày mỗi ngày (200 đôi giày – 100 đôi giày).

Khi nhà máy tiếp tục thuê thêm công nhân, tổng sản lượng tiếp tục tăng, nhưng sản phẩm cận biên của mỗi công nhân tăng thêm sẽ giảm. Ví dụ, công nhân thứ ba tăng tổng sản lượng lên 250 đôi giày mỗi ngày, nhưng sản phẩm lao động cận biên của công nhân thứ ba là 50 đôi giày mỗi ngày (250 đôi giày – 200 đôi giày). Người công nhân thứ tư tăng tổng sản lượng lên 280 đôi giày mỗi ngày, nhưng sản phẩm lao động cận biên của công nhân thứ tư là 30 đôi giày mỗi ngày (280 đôi giày – 250 đôi giày).

Khi nhà máy tiếp tục thuê thêm công nhân, sản phẩm cận biên của lao động sẽ tiếp tục giảm, cuối cùng đạt đến điểm mà việc bổ sung thêm công nhân sẽ không làm tăng đáng kể sản lượng. Điều này minh họa khái niệm về năng suất cận biên giảm dần, trong đó nêu rõ rằng khi càng có nhiều đơn vị đầu vào (trong trường hợp này là lao động) được thêm vào quy trình sản xuất, sản phẩm cận biên của đầu vào đó cuối cùng sẽ giảm.

Tổng kết lại, phía trên đây Giaodichtaichinh tóm gọn những điều cần lưu ý về năng suất biên là gì? Năng suất biên được ứng dụng ra sao và thực tiễn đang vận hành ở các doanh nghiệp như thế nào. Hãy đón xem các bài viết sau của Giaodichtaichinh nhé!

0 0 votes
Article Rating

Bài Viết Liên Quan

Theo dõi
Nhận thông báo
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Contact Us

DMCA.com Protection Status