Home Kiến thức Đường giới hạn khả năng sản xuất là gì?

Đường giới hạn khả năng sản xuất là gì?

Đường giới hạn khả năng sản xuất là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học. Nó phản ánh lên năng suất và sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất được khi sử dụng toàn bộ nguồn lực đang có. Vậy đường giới hạn khả năng sản xuất là gì? Cách vẽ và đặc điểm ra sao, hãy cùng Giaodichtaichinh tìm hiểu qua bài viết dưới đây!

1. Đường giới hạn khả năng sản xuất là gì?

1.1 Khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất

Đường giới hạn khả năng sản xuất hay Production Possibility Frontier hay PPF là đường mô tả những tổ hợp sản lượng hàng hóa tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất được khi tận dụng hết toàn bộ nguồn lực hiện tại đang có.

Đường PPF cũng mô tả mối liên hệ mức độ phối hợp tối đa để tạo sản lượng mà nền kinh tế có thể với các nhân tố ảnh sản xuất cùng công nghệ hiện có. Đồng thời cũng minh họa rõ ràng tính khan hiếm của nguồn lực và những lựa chọn kinh tế.

Đường giới hạn khả năng sản xuất thường được biểu diễn dưới dạng biểu đồ, và khi nhìn vào, ta có thể thấy được những tổ hợp nào mang đến sản lượng tối đa, sự khan hiếm nguồn lực, chi phí cơ hội và quy luật chi phí tăng dần,…

1.2 Đường giới hạn khả năng sản xuất giải quyết vấn đề gì?

Đường giới hạn khả năng sản xuất thông thường sẽ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà phân tích kinh tế. Dựa vào đó, họ có thể trả lời ba câu hỏi cơ bản của nền kinh tế học. Ba vấn đề này thường sẽ là:

  • Sản xuất cái gì và số lượng là bao nhiêu. Nó sẽ giúp các nhà đầu tư cụ thể được ngành tham gia.
  • Sản xuất như thế nào? Áp dụng công nghệ nào?
  • Sản xuất cho ai?

Qua biểu đồ, ta có thể thấy rõ hơn về độ khan hiếm của nguồn lực, chi phí cơ hội và sự lựa chọn kinh tế nào sẽ mang đến lợi ích lâu dài nhất.

2. Những đặc trưng cơ bản của đường giới hạn khả năng sản xuất

Để có thể minh họa rõ ràng và chi tiết về độ khan hiếm của nguồn lực, đường giới hạn khả năng sản xuất PPF mang những đặc trưng sau đây:

  • Đường giới hạn khả năng sản xuất thường là một đường cong và hướng lõm về gốc tọa độ. Thể hiện sự khan hiếm của nguồn lực.
  • Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện sự đánh đổi giữa các hàng hóa. Nghĩa là nếu doanh nghiệp muốn sản xuất nhiều hơn mặt hàng A, họ phải giảm số lượng nhất định một mặt hàng B. Đó còn được gọi là chi phí cơ hội.
  • Những điểm thuộc đường PPF sẽ là những điểm đạt hiệu quả tốt nhất. Vì đây là giao điểm của nguồn lực sẵn có và chi phí cơ hội. Nghĩa là doanh nghiệp đã tận dụng hết nguồn lực hiện có, không xuất hiện hiện tượng lãng phí hoặc phát sinh thêm chi phí khác.
  • Đối với các điểm nằm ngoài đường PPF curve sẽ biểu thị những tổ hợp sản xuất không khả thi. Vì những điểm này thường sẽ yêu cầu nguồn lực lớn hơn nguồn lực sẵn có.
  • Những điểm nằm trong đường PPF là kết quả của những phương án kém hiệu quả. Vì những điểm này thường sẽ gây lãng phí nguồn lực.
  • Đối với đường PPF, nếu càng đi từ trái sang phải thì đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ càng dốc xuống.

3. Ý nghĩa của đường giới hạn khả năng sản xuất

Đường giới hạn khả năng sản xuất thể hiện sự khan hiếm của nguồn lực của xã hội và doanh nghiệp. Đồng thời, nó cũng thể hiện rõ giới hạn năng lực sản xuất cũng như số lượng hàng hóa tối đa mà xã hội có thể sản xuất được trong điều kiện hiện tại.

Đường giới hạn khả năng sản xuất cũng cho thấy được sản lượng mới tăng như thế nào nếu ta có thể cải tiến và nâng cấp điều kiện sản xuất. Và khi đó, nền kinh tế sẽ xuất hiện một đường giới hạn khả năng sản xuất mới.

Khi nguồn lực gia tăng theo thời gian hoặc tích lũy của xã hội, tìm ra phương pháp mới tiên tiếng hơn, đường giới hạn sẽ dịch chuyển ra phía ngoài góc tọa độ. Đồng thời cũng mở rộng và tạo khả năng xã hội có thể sản xuất đồng thời nhiều loại sản phẩm. Khi đó, việc khan hiếm lại diễn ra và chúng ta lại tìm cách khắc phục,.. Tạo thành bước đẩy giúp nền kinh tế đi liên.

4. Cách biểu diễn đường giới hạn khả năng sản xuất

Giả sửa trên thị trường chỉ có hai loại hàng hóa được kinh doanh và nguồn lực là không thay đổi. Bạn có thể biểu diễn mặt hàng X là trục hoành, mặt hàng Y là trục tung.

đường giới hạn khả năng sản xuất

Từ biểu đồ, ta có thể thấy được, tại điểm B số lượng hàng hóa X nhiều hơn hàng hóa Y và điểm C thì số lượng hàng hóa Y nhiều hơn.

Tại điểm A, số lượng hàng hóa X là nhiều nhất vì thị trường chỉ tập trung sản xuất hàng hóa X. Ngược lại, tại điểm D, thị trường chỉ tập trung sản xuất hàng hóa Y.

Điểm E là điểm nằm ngoài đường PPF. Đây là phương án không khả thi vì đòi hỏi nhiều hơn về nguồn lực nhưng xã hội chưa thể đáp ứng được.

Tại điểm F thì phương án sản xuất không hiệu quả vì chưa phát huy hết nguồn lực sẵn có trên thị trường.

Để sản xuất ra sản phẩm, chúng ta sẽ cần phải có những nguồn lực và công nghệ nhất định. Tuy nhiên, những nguồn lực và công nghệ mà chúng ta hiện có là có giới hạn chứ không phải là những con số vô hạn.

Do đó, xã hội không thể có mọi thứ mà họ muốn vì bị giới hạn bởi khả năng sản xuất. Vì thế, các nhà kinh tế học phải đưa ra những giải pháp nhằm tối ưu được hiệu quả sản xuất.

5. Cách tính chi phí cơ hội dựa trên đường giới hạn khả năng sản xuất

Chúng ta biết rằng, chi phí cơ hội là phần lợi ích bị mất đi khi ta lựa chọn phương án này thay vì phương án khác. Vì thế việc cân nhắc sao cho chi phí cơ hội thấp nhất là lựa chọn ưu tiên của mọi người.

Ví dụ, trên hình trên ta có thể thấy rằng: Muốn sản xuất thêm 10 sản phẩm X (điểm B) ta phải từ bỏ 20 sản phẩm Y. Vậy 20 sản phẩm Y này chính là chi phí cơ hội khi ta sản xuất thêm 10 sản phẩm X.

Vậy ta có công thức:

CPCH (10X) = Chi phí sản xuất 10X + Lợi ích mất đi (20Y)

Để đơn giản về phần lợi ích mất đi, tôi xin quy đổi chúng về giá trị bằng tiền, giá trị vật chất, tinh thần,…mà 20Y mang lại.

Vậy, ta có thể tính chi phí cơ hội như sau:

CPCH(10X) = C(x)*10 + P(y)*20

Trong đó: C(x) là chi phí sản xuất ra 1 đơn vị hàng hóa X và P(y) là giá bán của một đơn vị hàng hóa Y.

6. Đường giới hạn khả năng sản xuất và quy luật chi phí cơ hội tăng dần

Theo quy luật, chi phí cơ hội của việc sản xuất hàng hóa sẽ có xu hướng tăng dần.

Giả sử khi sản lượng sản xuất đang từ vị trí C sang B thì sẽ xảy ra một lượng ∆x và ∆y. Khi đó, chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 đơn vị hàng hóa X khi di chuyển từ C sang B sẽ được đo bằng tỷ số

|∆Y/∆X| (Vì ∆Y âm) = |-20/10| = 2.

Nghĩa là ta có thêm một đơn vị hàng hóa X khi từ bỏ 2 đơn vị hàng hóa Y.

Theo quy luật chi phí cơ hội tăng dần, ta có thể sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa X như nhau, số lượng hàng hóa Y phải từ bỏ sẽ tăng dần, tức tỷ lệ |∆Y/∆X| sẽ tăng dần.

7. Độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất

Độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ phản ánh chi phí cơ hội của việc sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa.

Độ dốc này được đo tại từng điểm khác nhau, không cố định và thường có xu hướng tăng dần khi đi từ trái qua phải của đồ thị.

Mối liên hệ sẽ là nếu ta cứ gia tăng sản xuất hàng hóa X thì số lượng hàng hóa Y phải hy sinh sẽ ngày một nhiều hơn. Tỷ lệ |∆Y/∆X| sẽ tăng lên làm cho độ dốc của đường PPF cứ thế tăng dần.

đường giới hạn khả năng sản xuất

Các yếu tố gây dịch chuyển đường PPF

Việc dịch chuyển đường PPF phản ánh quá trình tăng trưởng kinh tế, phá vỡ giới hạn khả năng sản xuất vốn có trên thị trường.

Đạt được các điểm nằm ngoài đường PPF, doanh nghiệp cần phải tìm cách lựa chọn các phương án nằm ngoài đường PPF, xác định được đường PPF mới.

đường giới hạn khả năng sản xuất

Đường PPF dịch chuyển phụ thuộc vào các yếu tố chính như: tăng lên của nguồn lực về chất lượng hoặc số lượng, tiến bộ của khoa học công nghệ hay những chính sách vĩ mô của Nhà nước tác động làm cải thiện nguồn lực và công nghệ. Cụ thể:

  • Sự phát triển công nghệ sản xuất, các dây chuyền sản xuất mới, Robot tự động hóa, tận dụng công nghệ 4.0, các quá trình tự động hóa, tích hợp AI vào sản xuất, việc chuyển đổi số của các doanh nghiệp,…
  • Tăng các yếu tố sản xuất: tăng số lượng máy móc thiết bị, lượng lao động, mở rộng quỹ đất sản xuất,…
  • Có các phương pháp sản xuất mới hiệu quả hơn hơn.

8. Tại sao đường giới hạn khả năng sản xuất lại là đường cong?

Vì chi phí cơ hội của việc sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa được thể hiện dưới góc độ hình học là độ dốc của đường PPF nên khi đi từ trái sang phải thì độ dốc cũng sẽ tăng dần tức là |∆Y/∆X| = tan(α) cũng sẽ tăng dần.

Vì có độ dốc tăng nên đường PPF cũng có xu hướng bị bẻ cong và mở rộng ra xa phía gốc tọa độ. Tạo thành đường cong lồi.

Trong một vài trường hợp, đường PPF lại được biểu thị là một đường thẳng tuyến tính có dạng:

y = ax + b. 

Lúc này, hệ số góc của đường thẳng sẽ không đổi và bằng hằng số a.

Trên thực tế, điều này sẽ hiếm khi xảy ra vì chi phí cơ hội sẽ luôn tăng dần hoặc giảm dần. Không thể có trường hợp nào mà chi phí cơ hội khi sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa là cố định cả.

9. Cách Vẽ Đường Giới Hạn Khả Năng Sản Xuất

9.1. Vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất

Để có thể vẽ được đường PPF, bạn phải có bộ dữ liệu tổ hợp hàng hóa X và Y.

Sau đó, bạn vẽ đồ thị với trục tung biểu diễn hàng hóa Y và trục hoành biểu diễn hàng hóa X. Bạn nhớ gắn nhãn các trục và chia tỷ lệ.

Sau đó, dựa vào dữ liệu đã có, biểu diễn các điểm trên đồ thị trước. Nối các điểm lại với nhau ta có đường PPF với hình dạng cong và lồi.

Sau cùng, bạn có thể chú thích và thêm các điểm hiệu quả, không khả thi vào đồ thị.

9.2. Vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất trong Word

Điểm cộng của phương pháp này là:

  • Dạng biểu đồ này có khả năng trình bày được nhiều dạng khác nhau trong cùng 1 khung hình.
  • Thể hiện được tác động của yếu tố này lên trên yếu tố khác.
  • Có thể thực hiện mô tả nhiều giá trị doanh số khác nhau.

Điểm trừ:

  • Về bản chất thì biểu đồ này sẽ trông khá là phức tạp so với những loại biểu đồ đơn lẻ thông thường
  • Nếu chưa quen sẽ dễ gây khó nhìn và khó theo dõi hơn.

Bước 1: Chuẩn bị bộ dữ liệu.

Bạn hãy chuẩn bị các tổ hợp sản lượng của 2 hàng hóa X và Y.

Bước 2: Trên MS Word, bạn chọn Insert, sau đó chọn Chart.

đường giới hạn khả năng sản xuất

Trong thư viện biểu đồ bạn chọn biểu đồ “X Y Tán Xạ” (Scatter).

đường giới hạn khả năng sản xuất

Tiếp tục, bạn chọn Scatter with Smooth Lines and Maker (Biểu đồ tán xạ với đường trơn), với mục đích nối các điểm X, Y bị phân tán để hình thành đường PPF.

Bước 3

Sau khi biểu đồ mẫu hiện ra:

  • Nếu có cửa sổ Excel xuất hiện kèm theo thì bạn có thể nhập các giá trị X, Y tương ứng thay thế cho giá trị mặc định.
  • Nếu không kèm theo cửa sổ Excel thì bạn click chuột trái vào biểu đồ, sau đó chọn “Edit data”.
  • Tại giao diện file Excel mới hiện ra, bạn hãy nhập các tổ hợp sản lượng X, Y tương ứng.

Bước 4

Sau khi nhập các tổ hợp sản lượng bạn hãy tắt File/Cửa sổ Excel đi (không cần lưu), ngay lập tức bạn sẽ có biểu đồ PPF.

đường giới hạn khả năng sản xuất

10. Ví dụ về đường giới hạn khả năng sản xuất

10.1. Ví dụ 1

Giả sử rằng toàn bộ nguồn lực của nền kinh tế chỉ tập trung vào sản xuất 2 loại hàng hóa là thức ăn và quần áo. Để tận dụng hết nguồn lực của nền kinh tế, ta nên chọn phương án nào?

Bảng 1.1 Những khả năng sản xuất thay thế khác nhau

Khả năng Lương thực (tấn) Quần áo (ngàn bộ)
A 0 7,5
B 1 7
C 2 6
D 3 4,5
E 4 2,5
F 5 0

đường giới hạn khả năng sản xuất

Hình 1.1. Đường giới hạn khả năng sản xuất

Biểu diễn những khả năng này trên đồ thị và nối những điểm này lại ta được đường PPF.

Dựa vào đồ thị, ta có thể thấy:

  • Phương án lựa chọn A là phương án toàn bộ nguồn lực chỉ sản xuất quần áo, tại đây số lượng quần áo được sản xuất ra là nhiều nhất (7.5 ngàn bộ), còn thực phẩm bằng 0.
  • Phương án F toàn bộ nguồn lực chỉ tập trung sản xuất lương thực và thực phẩm bằng 5 là nhiều nhất còn quần áo bằng không. Dọc theo đường cong từ phương án A đến phương án F thì quần áo giảm đi và lương thực tăng lên.
  • Các phương án sản xuất A,B,C,D,E,F đều là những phương án có hiệu quả vì đã tận dụng hết nguồn lực hiện có. Tại các phương án ,muốn tăng một đơn vị sản phẩm đầu ra là quần áo thì phải cắt giảm đi những đơn vị sản phẩm đầu ra là lương thực.
  • Phương án M là phương án sản xuất không có hiệu quả vì chưa sử dụng hết nguồn lực và tại M muốn tăng quần áo thì không cần phải cắt giảm lương thực vì còn nguồn lực.
  • Phương án N là phương án không thể đạt được của nền kinh tế vì xã hội không đủ nguồn lực.

10.2. Ví dụ 2

Bằng cách tận dụng các nguồn lực của nền kinh tế, các doanh nghiệp có thể tăng sản lượng và sản xuất ở mức nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Có thể minh họa về giới hạn khả năng sản xuất qua ví dụ sau:

Bảng 1: Các khả năng sản xuất

Lương thực Quần áo
Công nhân Sản lượng Công nhân Sản lượng
4 25 0 0
3 22 1 9
2 18 2 17
1 10 3 24
0 0 4 30

Bảng trên cho thấy các khả năng phân phối về sản lượng lương thực và quần áo mà giả định các nền kinh tế có thể sản xuất được khi thuê tất cả 4 công nhân.

Chi phí cơ hội là chuyển công nhân từ ngành này sang ngành khác nền kinh tế có thể sản xuất được một mặt hàng nhiều hơn nhưng phải chịu để sản xuất mặt hàng khác ít hơn.

đường giới hạn khả năng sản xuất

  • Các điểm A, B, C, D, E đều là những phương án khả thi, cho thấy doanh nghiệp đã tận dụng tối đa nguồn lực.
  • Điểm G nằm trong đường giới hạn là những điểm không hiệu quả vì ở đây xã hội bỏ phí các nguồn lực. Người ta có thể tăng thêm sản lượng của một mặt hàng mà không đòi hỏi phải cắt bớt sản lượng của mặt hàng khác.
  • Điểm H là không thể đạt được. Hẳn là tốt hơn, nếu có thêm lương thực và quần áo, nhưng không thể thực hiện được mức độ kết hợp như vậy giữa các mặt hàng khi chỉ có một số lượng lao động nhất định.

10.3. Ví dụ 3

đường giới hạn khả năng sản xuất

Giả sử nền kinh tế có thể sản xuất hai sản phẩm là súng và bơ. Từ đồ thị, ta có thể thấy:

  • 200 súng nếu thị trường chỉ sản xuất súng, biểu thị bằng điểm (0,200).
  • 100 pound bơ và 190 súng, biểu thị bằng điểm (100,190).
  • 250 pound bơ và 150 khẩu súng, biểu thị bằng điểm (250,150).
  • 350 pound bơ và 75 khẩu súng, biểu thị bằng điểm (350,75).
  • 400 pound bơ nếu nó chỉ sản xuất bơ, biểu thị bằng điểm (400,0).
  • Phải từ bỏ việc sản xuất 10 khẩu súng nếu muốn sản xuất thêm 100 pound bơ.
  • Độ dốc trung bình của PPF tại điểm 1 là|(190-200) / (100-0)| =1/10.
  • Tương tự, điểm thứ hai đến điểm thứ ba, nền kinh tế phải từ bỏ sản xuất 40 khẩu súng nếu muốn sản xuất thêm 150 pound bơ, với độ dốc trung bình 4/15.
  • Tại điểm thứ ba đến điểm thứ tư, nền kinh tế phải từ bỏ sản xuất 75 súng nếu muốn sản xuất 100 pound bơ khác, và độ dốc trung bình là 3/4.
  • Khi đi từ điểm thứ tư đến điểm thứ năm, nền kinh tế phải từ bỏ sản xuất 75 súng nếu muốn sản xuất thêm 50 pound bơ, độ dốc trung bình 3/2.

Biểu đồ này thể hiện sự thay đổi trong nền kinh tế, tạo nên đường PPF mới. Một tiến bộ trong công nghệ chế tạo súng làm nền kinh tế phát triển tốt hơn. Điều này có nghĩa rằng, đối với bất kỳ mức sản xuất bơ nào, nền kinh tế sẽ có thể sản xuất nhiều súng hơn trước đây. Do đó, đường giới hạn khả năng sản xuất thay đổi dọc theo trục dọc, hoặc súng.

11. Bài tập về đường giới hạn khả năng sản xuất

11.1. Bài tập 1

Nam muốn đi từ Hà Nội vào Vinh. Nếu Nam đi máy bay thì sẽ mất 1 giờ, còn nếu Nam đi ô tô xe bus sẽ cần 5 giờ. Giá vé máy bay quãng đường Hà Nội – Vinh là 1.600.000 VNĐ, còn giá vé xe bus là 400.000 VNĐ.

Nếu không mất thời gian di chuyển, Nam có thể làm việc và kiếm được thu nhập là 400.000 VNĐ/giờ.

  • Tính chi phí cơ hội của Nam khi di chuyển từ Hà Nội vào Vinh bằng xe bus.
  • Nếu Nam đi máy bay thì chi phí cơ hội của Nam là bao nhiêu?
  • Nam nên đi từ Hà Nội vào Vinh bằng phương tiện gì?
  • Nếu bây giờ thu nhập của Nam chỉ là 100.000 VNĐ/giờ thì kết quả sẽ thay đổi như thế nào?

Đáp án

Thu nhập 400.000 VNĐ/giờ Thu nhập 100.000 VNĐ/giờ
Chi phí cơ hội khi đi bằng xe bus 400.000 + 5*400.000 =2.400.000 VNĐ 400.000 + 5*100.000 =900.000 VNĐ
Chi phí cơ hội khi đi bằng máy bay 1.600.000 + 1*400.000 = 2.000.000 VNĐ 1.600.000 + 1*100.000 = 1.700.000 VNĐ

Trong thời gian di chuyển, Nam sẽ không thể làm việc và do vậy không có thu nhập từ việc làm. Chính vì vậy, khi di chuyển, chi phí cơ hội của Nam là tổng của chi phí trực tiếp bằng tiền khi mua vé và chi phí cơ hội của thời gian (tức là phần thu nhập bị mất đi do Nam không làm việc).

  • Với mức lương 400.000 VNĐ/giờ, Nam nên lựa chọn phương án đi máy bay vì chi phí cơ hội đi máy bay thấp hơn so với chi phí cơ hội đi xe bus.
  • Nếu mức lương của Nam là 100.000 VNĐ/ngày, Nam nên lựa chọn đi xe bus vì chi phí cơ hội đi xe bus sẽ thấp hơn so với chi phí cơ hội đi máy bay.

11.2. Bài số 2

Giả định một nền kinh tế chỉ có 4 lao động, sản xuất 2 loại hàng hóa là lương thực và quần áo. Khả năng sản xuất được cho bởi bảng số liệu sau:

Phương án Lao động Lương thực Quần áo
A 0 0 0
B 1 9 10
C 2 17 17
D 3 22 24
E 4 25 30

đường giới hạn khả năng sản xuất

  • Vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất (đường PPF) (số lượng lương thực biểu diễn số lượng lương thực biểu diễn trên trục hoành và quần áo biểu diễn trên trục tung)
  • Tính chi phí cơ hội để sản xuất thêm một đơn vị lương thực tại các đoạn AB, BC,CD, DE và cho nhận xét.

Đáp án

Chi phí cơ hội = tanα = ∆Y/∆X.

Kết quả:

  • Chi phí cơ hội trên đoạn AB = 6/9.
  • Chi phí cơ hội trên đoạn BC = 7/8.
  • Chi phí cơ hội trên đoạn CD = 7/5.
  • Chi phí cơ hội trên đoạn DE = 10/3.

Nhận xét:

  • Chi phí cơ hội để sản xuất thêm 1 đơn vị lương thực ngày càng tăng. Tức là để sản xuất thêm 1 đơn vị lương thực, nền kinh tế này phải từ bỏ ngày càng nhiều quần áo.
  • Sản xuất của nền kinh tế tuân theo quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng. Do quy luật này tác động nên đường PPF của nền kinh tế là một đường cong lồi so với gốc tọa độ (độ dốc đường PPF tăng dần).

11.3. Bài số 3

Tỉnh Neru của nước Kenya  chỉ sản xuất hai loại hàng hóa là thức ăn và quần áo. Bản dưới đây đưa ra khả năng sản xuất của quốc gia. Cụ thể:

Khả năng Thức ăn (tấn/tháng) Quần áo (ngàn/tháng)
A 300 0
B 200 50
C 100 100
D 0 150

  • Vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất của tỉnh Neru.
  • Xác định chi phí cơ hội của việc sản xuất thức ăn và quần áo của Neru ở mỗi mức sản lượng.
  • Chi biết xu hướng thay đổi của chi phí cơ hội.

Đáp án

Biểu đồ

đường giới hạn khả năng sản xuất

Chi phí cơ hội 

Chi phí cơ hội của 1 tấn thức ăn Chi phí cơ hội của 1 đơn vị quần áo
100 tấn thức ăn đầu tiên cần đổi 50 đơn vị quần áo. 50/100 = 0.5 50 đơn vị quần áo đầu cần đổi 100 tấn thức ăn. 100/50 = 2
100 tấn thức ăn tiếp theo cần đổi 50 đơn vị quần áo. 50/100 = 0.5 100 tấn thức ăn tiếp theo cần đổi 50 đơn vị quần áo 100/50 = 2
100 tấn thức ăn cuối cùng cần đổi 50 đơn vị quần áo. 50/100 = 0.5 100 tấn thức ăn cuối cùng cần đổi 50 đơn vị quần áo 100/50 = 2

Nhận xét:

  • Chi phí cơ hội của việc sản xuất thức ăn cũng như sản xuất quần áo có xu hướng không đổi, đường giới hạn khả năng sản xuất là một đường thẳng tuyến tính.
  • Chi phí cơ hội của việc sản xuất bất kỳ 1 đơn vị thức ăn nào cũng đều cần đổi 0.5 bộ quần áo.
  • Chi phí sản xuất bất kỳ 1 đơn vị quần áo nào cũng cần đổi 2 đơn vị thức ăn.

Vậy là chúng ta đã tìm hiểu xong về khái niệm đường giới hạn khả năng sản xuất trong kinh tế và hiểu về cách vẽ cũng như cách đọc biểu đồ. Hy vọng bài viết này sẽ giúp bạn hiểu được đường giới hạn khả năng kinh tế, đặc điểm, ý nghĩa, hình dạng, cách vẽ, cách đọc, các tính chi phí cơ hội và lý do tại sao đường PPF luôn là đường cong. Mong rằng bạn có thể hiểu và áp dụng thành công vào thực tế. Chúc bạn may mắn!

0 0 votes
Article Rating

related posts

Theo dõi
Nhận thông báo
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments